Đường từ xóm Cổng ngói ra ngã ba Độc Bộ
Theo “ Thiên nam ngũ lục” thì Đức Triệu Quang Phục là con trai của quan Thái thú Triệu Túc, người Chu Diên, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên. ở sách “ các triều đại Việt Nam” nói Chu Diên thuộc Hưng Yên.lại có thuyết cho rằng thuộc Đan Phượng- Hà Tây ( Sách “Lịch Sử Việt Nam”. Tập I, Nxb. Đh và THCN, H.1983, tr.406 nói: “ Chu Diên là vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội”, còn “ sổ tay địa danh Việt Nam “ của Đinh Xuân Vịnh, nhà xuất bản lao động, H.!966.tr.109 thì nói: “ Chu Diên thuộc quận Giao Chỉ đời Hán, tương đương với tỉnh Vĩnh Yên ngày nay. Lại cho biết thêm, có điểm Ô Diên, nay là làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng_ lời chú của đân tộc và thời đại).
Picture














Đền thờ Triệu Việt Vương
hay Miếu Độc Bộ ở cửa biển Đại Nha

Cả hai cha con Triệu Quang Phục đã theo Lý Nam Đế từ buổi đầu, vừa là tướng tài, vừa là bậc trung thần ái quốc nên được Lý Nam Đế giao cho thống lĩnh binh quyền , để tiếp tục sự nghiệp cứu nước của nhà Tiền Lý còn dang dở.

Từ đó, Triệu Quang Phục bèn rút quân về đầm Dạ Trạch (nay thuộc huỵện Khoấi Châu, Hưng Yên). Đó là nơi đầm lầy, cỏ mọc như rừng. Người thiết lập doanh trại rất bí mật. đường ra vào rất hiểm trở ngay trên bãI cát giữa đầm. Ban ngày tắt khói, ban đêm tắt lửa, im hơi lặng tiếng. Đêm đến, nghĩa quân của Triệu Quang Phục mới kéo thuyền ra đánh vào các doanh trại của quận Lương. Vì biết xây dựng căn cứ chuyển sang lối đánh nhỏ. đánh lẻ, quân ta dần dần khôi phục lại lực lượng, gây cho địch nhiều thiệt hại, lấy được nhiều lương thực để nuôi quân và giữ vững đựơc sức chiến đấu bền bỉ, lâu dài. Từ đấy Đức Triệu Quang Phục được tôn là Dạ Trạch Vương ( vua Đầm Đen – dt Và th ) Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng hiệu là Triệu Việt Vương.

Năm Canh NGọ (550), nhà Lương có loạn to , thế lực suy yếu, Triệu Việt Vương từ căn cứ Dạ Trạch biết rõ gan ruột giặc liền xuất toàn bộ quân giao chiến giết được tướng giặc là Dương Sằn (có sách gọi là Dương Sàm) thu lại kinh đô, khôI phục nền độc lập cho nước Vạn Xuân.

Trước khi Lý Nam Đế mất, ông thất thế chạy về động Khuất Lão thì người anh ruột là Lí Thiên Bảo cùng người anh họ là Lý Phật Tử (Lý Thiện Long?) đem quân chạy vào đất Cửu Chân. Bị quân Lương xua đuổi, Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử phải chạy vào Châu ái (Thanh Hoá) giáp Lào rồi đóng đô ở Dã Năng xưng là Đào Lang Vương. Lý Thiên Bảo mất, không có con , binh quyền thuộc về tay Lý Phật Tử. đến năm Đinh Sửu (557) Lý Phật Tử đem quân về đánh Triệu Việt Vương nhưng không thắng. Lý Phật Tử mới giảng hoà và xin thề cùng nhà Triệu xây dựng giang sơn. Triệu Việt Vương nghĩ tình họ Lý cũng thuận chia đất cho Phật Tử. Phật Tử đóng đô ở Ô Diên nên mới có câu: “Ô Diên chi giới lưỡng phân chí tồn Nam Lý”. Nghĩa là “ Ô Diên địa giới chia đôi- vì chút nghĩa để còn nhà Nam Lý “

Triệu Việt Vương còn gả con gáI là Cảo Nương cho Nhã Lang – con trai Lý Phật Tử để tỏ lòng hoà hiếu. Tướng Chương Hống và Chương Hát vừa là tướng tin cẩn của Đức Vua vừa là cháu gọi vua bằng cậu đã can ngăn, không nên thông gia với ngưòi cựu thù và lấy chuyện Thục An Dương Vương từ VI thế kỉ trước ra để nhà vua sáng tỏ , nhưng vua không nghe. Hai tướng bất bình bỏ đi. Vì thiếu hai tướng kiêm tài văn võ nên nhà Vua đêm ngày mải chăm lo binh mã, việc ở rể của Nhã Lang hình như quên bẵng . Một hôm Nhã Lang hỏi vợ: “ trước vua cha chúng ta là cựu thù với nhau, nay là thông gia , chuyện này chẳng cũng hay lắm ư. Nhã Lang đã hỏi vợ về binh pháp của cha nàng vì sao mà đánh lui được quân Lương và thắng luôn cả quân của cha mình . với ý đồ thâm hiểm đêm ngày, Cảo Nương không biết được mưu chồng, đã lấy mũ đâu mâu cho xem và Nhã Lang đã bao lần chau chuốt. Cuối cùng , Nhã Lang ngầm đổi móng rồng, tráo đựơc Long Chảo rồi trở về cùng cha là Lý Phật Tử kéo quân sang đất của Triệu Quang Phục thách đánh.

Nhà vua tin vào hiệu lực của mũ Long Chảo (tức móng rồng) đưa quân ra cự chiến, nhưng Long Chảo đã mất tác dụng , các tướng tài lại phần vì chểnh mảng , phần vì bất ngờ , không ứng phó kịp… Vua bèn thu quân chạy xuống phía Nam đóng trại ở vùng Sơn Nam. Quân Lý Phật Tử đuổi theo, vua chạy tới của Đại Nha (tức Độc Bộ ngày nay) thuộc Yên Nhân – Ý Yên –Nam Định thì gặp cửa biển, đường đi đã nghẽn lối, tương truyền nhà vua hô lớn: ”Hoàng Long Vương thần không giúp ta sao?” Đại Nha nổi sóng rồng vàng xuất hiện rẽ nước thành đường đi, nhà vua bước một bước xuống, nước khép lại như cũ. Vua mất ngày 14 -7 năm Tân Mão, ở ngôi được 23 năm. Dân đã lập miếu thờ tại nơi ông mất. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285)Vua Trần Nhân Tông sắc phong là “Minh Đạo Hoàng Đế”. Năm Trùng Hưng thứ tư , Vua ban thêm 2 chữ “Khai Cơ” . Năm Hưng Long thứ 2 (1313) vua Trần Anh Tông ban thêm 4 chữ “Thành Liệt Thần Vũ” khoảng 80 năm truớc đây , đền đã được chánh ngũ phẩm Đồng Hữu Hiên ngưòi thôn Lạc Chính, tự đứng ra hưng công. Bây giờ dân làng còn nhớ đến công lao của ông . Nhưng ngôi đền hình chữ tam , có long các đẹp nhất Bắc Kỳ hồi ấy đã bị giặc Pháp phá tận móng năm 1948. Chúng sợ ngôi đền nằm trên mỏm đất rộng chừng hơn 1ha nhô ra nga 3 giữa sông Đáy và sông Đào gặp nhau, là nơi hoạt động của Việt Minh, án ngữ tàu chiến của chúng từ Phát Diệm lên Nam Định.

Hôm chúng tôI tới thăm Đại Nha xưa, chưa tới tiết thanh minh mà trời nóng như đổ lửa, đứng dưới gốc xanh cổ thụ, chừng 5 người ôm mới xuể để chờ cán bộ địa phương mà chợt nhớ về người anh hùng dân tộc.

“ngỡ còn đây bóng người xưa,
Những đêm Dạ Trạch trèo khua sóng dồn
Quân reo lủa cháy bên cồn
Sậy lau tua tủa kinh hồn giặc Lương”


Từ năm 1957 đến 2006, đền đã được xây lại trên nền móng cũ, cũng ba tòa với bái đường 2 tầng sừng sững, uy nghi nhìn về ngã ba , nơi hợp lưu của sông Đáy, sông Đào, nước chảy xuôi ra biển. Tầng trên của bái đường có bức hoành phi “Vạn Xuân độc lập” tầng duới có bức hoành phi bốn chữ đề ngoài của "Nam Thiên HIển Thánh”.Chúng tôi đi vào cửa chính bái đường 5 gian với 16 cột bê tông xếp thành 4 hàng mà tưởng như những hàng quân Dạ Trạch Vương đang nghiêm trang đợi lệnh, với đôi câu đối:

”Quốc sĩ vô song văn võ toàn tài song hữu miếu
Dư đồ hội nhất giang sơn hữu chủ nhất linh thanh”.


Trung đường cũng hoàn toàn bằng bê tông, hoành , xà kẻ , bẩy đều giả gỗ. Nhưng bộ cửa võng sơn son thếp vàng , trạm trổ long , ly , quy, phượng, rồng, lá thì bằng gỗ thật . Phía trước là bàn thờ hội đồng,hai bên tả hữu thờ văn quan võ tướng.Với đôi câu đối các cụ còn nhớ được từ xưa ghi lại:

“ Bác đức thánh văn nguy nguy chấn Nam phương thượng đẳng
Bia đề cổ tích Độc Bộ phụng sự hộ anh linh.”


Cũng có ông giáo làng hoạnh hoẹ câu đối này không chuẩn vì có hai chư “nguy nguy”. Họ không hiểu chữ hán “nguy nguy”ở đây ý nói là nguy nga cao vời vợi không nơi nào sánh bằng. Đồ thờ tự trong hậu cung còn nguyên vẹn từ thời xưa vì các cụ cất dấu được trước khi giặc phá Tượng ngài cao lồng lộng ngồi trong cỗ khám tám mái kiểu long đình có ghép kính bốn mặt.Hai bên còn thờ cả Hoàng Hậu ,cung phi.

Hàng năm dân làng ở đây mở hội vào các ngày 13,14,15-8 âm lịch,kỵ ngày ngài hiển thánh (13-8-ất Mão, năm 595). Đền thờ ngài ở các huyện Ý Yên ,Vụ Bản Nam Trực ,Trực Ninh, Nghĩa Hưng Giao ,Thuỷ Hải Hậu, Xuân Trường-Nam định, Nga Sơn –Thanh Hoá, Yên Khánh Yên Mô, Kim Sơn , Gia Viễn-Ninh Bình…cũng cử người về đây cùng 6 thôn trong xã rước về Đền rồi lập đàn tế ngài ở Tam Kỳ Giang (giữa ngã ba sông). Ngày xưa , cứ khỏang đầu tháng tám là các thuyền đinh hội tụ về hai bên bờ sông , cạnh đền thờ ngài để xin lễ rước. Bây giờ thì có phà, có năm thuê cả sà lan ghép lại chứa được hàng ngàn khách thập phương về dự tế thánh.

Tu sửa được đền to đẹp như ngày nay,phần lớn cũng nhờ công đức thập phương cùng với dân làng Độc Bộ.

Thấy chúng tôi về viết bài , họ chỉ ước ao: Đền ở đây sẽ sớm được nhà nước công nhận là di tích lich sử văn hoá .

- Đồng Ngọc Hoa-


 


Comments




Leave a Reply