Đường đi từ xóm Cổng ngói ra cây Dã Hương. 3,5 km.
Picture
Một số người bị ốm đến xin lá cây dã hương về cho vào nước đun, rót ra cốc nêm mấy hạt muối vào uống thì bỗng thấy cơ thể khỏe mạnh lạ thường. Có người bị mắc bệnh ngoài da dùng lá dã hương pha với nước để tắm cũng lành bệnh.






Ở làng Dương Phạm, Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định, không ai là không biết về cây dã hương có tuổi đời hơn 500 tuổi và xung quanh đó là bao giai thoại ly kỳ, bí ẩn.

Đôi bạch xà và cây thần dược

Nghe tưởng như chuyện bịa đặt, ấy vậy khi hỏi bất kỳ ai ở làng Dương Phạm, Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định họ đều biết về đôi bạch xà ngụ ở gốc cây dã hương ở đền Hoàng Cô.

Nhiều người từng tận mắt trông thấy đôi rắn to màu trắng, có mào đỏ trên đầu dài khoảng hai mét rưỡi. Ông Nguyễn Công Thâu người thủ nhang luôn túc trực tại đền quả quyết “tôi đã nhiều lần trông thấy hai ông rắn, nhưng có một điều đặc biệt là đôi bạch xà rất hiền lành, ngay cả khi tôi tới gần cũng không bị tấn công hay gây nguy hiểm gì hết”.

Nhiều người ở Dương Phạm cho rằng đó là đôi rắn thần đền thờ Hoàng Cô và chúng có nguồn gốc cùng với cây dã hương. Hiện nay, trong điện thờ Hoàng Cô cũng có tượng vải đôi bạch xà ở hai bên tả hữu của bà chúa Ngô Thị Nữ Hoằng.

Chính vì thấy được sự linh thiêng của cây dã hương, nhiều người dân sinh sống quanh vùng thường hay đến khấn vái coi đây như một niềm tin tinh thần quý báu.

Một số người bị ốm đến xin lá cây dã hương về cho vào nước đun, rót ra cốc nêm mấy hạt muối vào uống thì bỗng thấy cơ thể khỏe mạnh lạ thường. Có người bị mắc bệnh ngoài da dùng lá dã hương pha với nước để tắm cũng lành bệnh.

Người bị sốt, bị cảm thường hay đến đền thánh xin lá rồi về cho vào nước nóng xông hơi thì thấy người nhẹ nhõm, tinh thần sảng khoái.

Đàn ông trong làng Dương Phạm hay đợi cây dã hương ra quả, ra khấn đền bà Hoàng Cô, sau đem quả về tách hạt ra bỏ vào rượu ngâm uống, quanh năm không biết đau ốm là gì.

Không biết là chuyện hoang đường hay đáng tin nhưng từ bao đời nay, cây dã hương đã trở thành một cây thần trong lòng mỗi người dân làng Dương Phạm.


                     Nhiều người từng nhìn thấy đôi bạch xà sống ở gốc cây dã hương

Nhiều người ở Dương Phạm cho rằng đó là đôi rắn thần đền thờ Hoàng Cô và chúng có nguồn gốc cùng với cây dã hương. Hiện nay, trong điện thờ Hoàng Cô cũng có tượng vải đôi bạch xà ở hai bên tả hữu của bà chúa Ngô Thị Nữ Hoằng.

Chính vì thấy được sự linh thiêng của cây dã hương, nhiều người dân sinh sống quanh vùng thường hay đến khấn vái coi đây như một niềm tin tinh thần quý báu.

Một số người bị ốm đến xin lá cây dã hương về cho vào nước đun, rót ra cốc nêm mấy hạt muối vào uống thì bỗng thấy cơ thể khỏe mạnh lạ thường. Có người bị mắc bệnh ngoài da dùng lá dã hương pha với nước để tắm cũng lành bệnh.

Người bị sốt, bị cảm thường hay đến đền thánh xin lá rồi về cho vào nước nóng xông hơi thì thấy người nhẹ nhõm, tinh thần sảng khoái.

Đàn ông trong làng Dương Phạm hay đợi cây dã hương ra quả, ra khấn đền bà Hoàng Cô, sau đem quả về tách hạt ra bỏ vào rượu ngâm uống, quanh năm không biết đau ốm là gì.

Không biết là chuyện hoang đường hay đáng tin nhưng từ bao đời nay, cây dã hương đã trở thành một cây thần trong lòng mỗi người dân làng Dương Phạm.

Những tai nạn khó hiểu

Việc cây dã hương xuất hiện tại làng Dương Phạm vốn đã là một điều lạ lùng, không những thế tại đây còn lưu truyền rất nhiều những câu chuyện kỳ lạ mà đến giờ chưa ai giải thích được. Và cũng chính những điều lạ thường đã tạo nên sự linh thiêng của dã hương đại thụ ở đền Hoàng Cô.

Ông Thâu, người trông coi đền thờ cho biết, nói về chuyện kì bí xảy ra xung quanh ngôi đền thì nhiều vô số, nhưng kể ra nhiều người lại nghĩ bày chuyện ma quỷ, mê tín. Chỉ xin kể những câu chuyện người thật, việc thật mà ông tận mắt chứng kiến.

                                      Quanh gốc cây hơn 500 tuổi có vô vàn điều kỳ bí

"Năm 1960, một người thợ xây tên Uẩn nhà ở ngay sát đền thờ Hoàng Cô, khi làm nhà đã chiếm vào đất miếu, nhiều người khuyên can không nghe, Uẩn vẫn cứ làm. Sau đó ít lâu, từ một người khỏe mạnh, Uẩn bỗng trở nên ngớ ngẩn, chẳng còn biết gì nữa.

Đến năm 1971, ở làng có người tên Nguyễn Văn Thành, đi kéo lúa ngoài đồng, lúc về thấy có con chim sâu trên cây dã hương mới cầm hòn đất ném, hòn đất bay thẳng vào đền Hoàng Cô, tức thì cánh tay Thành đang nhiên gẫy gập, mang đi bệnh viện băng bó nhưng không khỏi mà còn sưng phù lên. Bấy giờ người nhà Thành mới đưa đến đến làm lễ, vái tạ, một thời gian sau thì cánh tay Thành trở lại lành lặn. Hiện ông Thành vẫn đang sinh sống tại làng Dương Phạm", ông Thâu liệt kê chi tiết.

Khó hiểu hơn là câu chuyện có người làng Dương Phạm to gan vác dao trèo lên cây dã hương chặt ba cành to đem đi bán. Một thời gian sau, trong một lần đi xe máy, người này đâm vào chính gốc dã hương và thiệt mạng.

Năm 1984, có ông chủ tịch xã cầm súng đứng dưới gốc cây dã hương bắn hai phát súng, hai năm sau đang ngồi làm việc bỗng ộc máu mồm mà chết.

Trẻ con quanh làng nhiều đứa ngổ ngáo đi vào đền trèo cây, bẻ cành, hái lá thì trở nên ngớ ngẩn, phải đến khi thắp hương khấn vái ở đền Hoàng Cô mới trở lại bình thường. Trâu bò không trông để vào đền phá phách thì tức khắc mấy hôm sau tự nhiên con thì ốm, con thì chết ". Chính những điều xảy ra trên đã khiến cây dã hương và đền thờ Hoàng Cô trở nên uy linh lạ thường, không ai dám xâm phạm hay có ý phá phách."

Ông Dương Xuân Đáp, phó chủ tịch UBND xã Yên Nhân cũng cho rằng, có quá nhiều điều kỳ bí ngẫu nhiên, khó có thể giải thích và đã tạo nên sự uy nghiêm của cây cổ thụ đại lão mộc tại đây.

Những cái chết kỳ bí, những hiện tượng không ai giải thích nổi mỗi ngày một nhiều xung quanh gốc cây ấy. Đến tận bây giờ chưa ai có thể lý giải những sự kỳ bí ấy dưới góc độ khoa học, hay mặt tâm linh.

Nguồn gốc cây thần

Tương truyền ở làng Dương Phạm, Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định trước kia có đôi vợ chồng quanh năm làm nghề mò cua, bắt ốc. Chồng là Ngô Công Tước, vợ là Nguyễn Thị Thái. Vào một ngày nọ, người vợ bỗng thấy cơ thể có sự thay đổi bất thường. Đêm đó, hai vợ chồng đi ngủ thì thấy ánh hào quang rực rỡ phát ra trong phòng.

Kể từ đó, người vợ mang thai và sau 18 tháng đẻ ra một cô con gái chân dung khác thường, đẹp như ngọc nữ trong tranh. Họ đặt tên con là Ngô Thị Nữ Hoằng, càng lớn Nữ Hoằng càng xinh đẹp, nết na, thông thạo chữ nghĩa, đặc biệt, cô có tài thêu thùa, ca hát nức tiếng quanh vùng.

               Cây dã hương hơn 500 tuổi và sự tích gắn liền với người con gái họ Ngô

Mùa xuân năm 1468, Nữ Hoằng tròn 19 tuổi. Một lần, trong lúc cô đang cùng đám con gái trong làng đi cắt cỏ bên sông, bỗng thấy có chiếc thuyền Rồng của nhà vua đi qua. Lúc này vua Lê Thánh Tông vừa đi đánh giặc tại Chiêm Thành về, đang đi du ngoạn bên sông. Khi đi qua đám con gái, một anh lính trên thuyền cất lời trêu rằng “Hỡi cô cắt cỏ bên sông, có ngự thuyền Rồng anh đón đi chơi”. Tức thì Nữ Hoằng đối lại ngay “Tay cầm bán nguyệt xênh xang, lòng em cũng muốn mở mang cơ đồ”.

Câu đối lưu loát lọt vào tai nhà Vua, người liền vén rèm ra xem dung nhan của cô gái thông minh ra sao. Vừa nhìn thấy Ngô Thị Nữ Hoằng, nhà vua đã không khỏi sững sờ trước vẻ đẹp như tiên giáng trần của cô. Đặc biệt vua Lê Thánh Tông còn ngạc nhiên vì trên đầu của Nữ Hoằng luôn có đám mây đi theo để che nắng, che mưa. Biết đây chẳng phải người thường, nhà vua vô cùng sủng ái đón cô vào cung và phong làm Nhị Vị Cung phi.

Tuy nhiên, sau khi vào cung, rà soát lại đời cha ông, nhà vua mới hay biết Nữ Hoằng vốn có tích chung huyết thống với mình, không được phép chung chăn gối. Bởi vậy, vua Lê Thánh Tông phong cho Nữ Hoằng làm Đức Chúa Hoàng Cô, Đô Tư Phán Xứ Hậu, chuyên dạy dỗ các công chúa.

Đến khi Đức Chúa Hoàng Cô lâm bệnh và qua đời. Theo di nguyện bà để lại, nhà vua mang 1 quan tài vàng, 7 quan tài bạc cùng quan tài chứa thi thể của bà về quê hương an táng.

Tuy nhiên, khi lính nhà vua vừa đặt chân đến làng Dương Phạm bỗng trời nổi cơn giông bão, mây đen vần vũ, mưa như trút nước, quân lính phải dựng lều trại đợi cơn phong ba đi qua. Sớm hôm sau, nhà vua đi ra nơi đặt linh cữu bà Nữ Hoằng thì đã thấy đất đùn to như một đống mối, chen kín gần hết quan tài.

      Nơi đặt linh cữu của Đức Chúa Hoàng Cô, trước kia được xây bằng đá cổ, sau bị đập phá và mới được người dân tôn tạo

Biết đây là nơi thiên táng, đất địa linh, nhìn lại thế đất nơi này thì đúng hình đầu Rồng. Nhà vua quyết định cho quân lính đào mộ và an táng bà tại đây. Sau đó dựng một ngôi đền thờ bên cạnh, gọi là đền Hoàng Cô. Đằng sau ngôi đền, nhà vua cho trồng một cây mộc hương xoan dã, cây lá xanh mướt, quanh năm tỏa mùi hương, người dân trong làng thường gọi là cây Xoan Dã.

Kể từ đó đến nay trải qua hơn 500 năm, mộc hương năm nào, giờ đã trở thành dã hương đại thụ, to lớn, thân mình mấy người ôm không xuể. Qua bao biến đổi thăng trầm, dã hương vẫn tồn tại như một huyền thoại sống về người con gái đẹp làng Dương Phạm và cùng với đó là những giai thoại kỳ bí.

Bảo tồn và phát triển cây liệt vào sách đỏ

Hiện tại, cây dã hương có đường kính gốc 11 mét, cao khoảng 25-30 mét, cành cây to xù xì, tán lá xum xuê vươn rộng cả một vùng; đặc biệt có bộ rễ nổi kỳ dị độc đáo, trong đó có 2 rễ lùa ôm vào hậu chẩm ngôi miếu trông như hai cánh tay. Trên thân có cây sanh sống cộng sinh quấn lấy một phần thân cây. Đây là một loạt cây được ghi trong sách đỏ thế giới, ở Việt Nam hiện tại chỉ còn có hai cây có tuổi đời trên 500 năm. Ông Thâu cũng đang tiến hành ươm các cây dã hương con trồng xung quanh khu vườn trồng dã hương đại thụ nhằm duy trì nguồn giống cây quý hiếm.

Nhiều người dân trong vùng đã tự góp tiền để xây dựng lại ngôi mộ của bà Ngô Thị Nữ Hoằng và làm rào quanh khu vực cây dã hương để bảo vệ. Đồng thời xây công trình giao thông “cây dã hương” làm con đường bê tông chạy từ ngoài làng vào đến ngôi đền Đức Thánh Hoàng Cô nơi có dã hương đại thụ.

Trao đổi với PV, phó chủ tịch UBND xã Yên Nhân, ông Dương Xuân Đáp cho biết: “Chính quyền xã đã tiến hành khảo sát và biết đây là một loại cây cực kỳ quý hiếm, thêm nữa lại có giá trị lịch sử và được nhân dân trong vùng thờ phụng. Bởi vậy, xã đã phối hợp với nhiều giáo sư có chuyên môn về cây dã hương để có biện pháp bảo tồn như diệt sâu, mối mọt ở cây, đổ đất vào gốc để bộ rễ cây bám chắc, không bị đổ khi có bão lớn. Đồng thời lên kế hoạch xây dựng khuôn viên quanh đền Hoàng Cô và hoàn tất công trình đường giao thông cây dã hương”. Ông Đáp cũng cho biết, do nguồn kinh phí của xã có hạn, nên rất cần được sự đóng góp từ phía xã hội để duy trì và phát triển cây đại thụ đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới.

Theo Kinh Vân (Bưu điện Việt Nam)
 
 
Đường từ xóm Cổng ngói ra ngã ba Độc Bộ
Theo “ Thiên nam ngũ lục” thì Đức Triệu Quang Phục là con trai của quan Thái thú Triệu Túc, người Chu Diên, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên. ở sách “ các triều đại Việt Nam” nói Chu Diên thuộc Hưng Yên.lại có thuyết cho rằng thuộc Đan Phượng- Hà Tây ( Sách “Lịch Sử Việt Nam”. Tập I, Nxb. Đh và THCN, H.1983, tr.406 nói: “ Chu Diên là vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội”, còn “ sổ tay địa danh Việt Nam “ của Đinh Xuân Vịnh, nhà xuất bản lao động, H.!966.tr.109 thì nói: “ Chu Diên thuộc quận Giao Chỉ đời Hán, tương đương với tỉnh Vĩnh Yên ngày nay. Lại cho biết thêm, có điểm Ô Diên, nay là làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng_ lời chú của đân tộc và thời đại).
Picture














Đền thờ Triệu Việt Vương
hay Miếu Độc Bộ ở cửa biển Đại Nha

Cả hai cha con Triệu Quang Phục đã theo Lý Nam Đế từ buổi đầu, vừa là tướng tài, vừa là bậc trung thần ái quốc nên được Lý Nam Đế giao cho thống lĩnh binh quyền , để tiếp tục sự nghiệp cứu nước của nhà Tiền Lý còn dang dở.

Từ đó, Triệu Quang Phục bèn rút quân về đầm Dạ Trạch (nay thuộc huỵện Khoấi Châu, Hưng Yên). Đó là nơi đầm lầy, cỏ mọc như rừng. Người thiết lập doanh trại rất bí mật. đường ra vào rất hiểm trở ngay trên bãI cát giữa đầm. Ban ngày tắt khói, ban đêm tắt lửa, im hơi lặng tiếng. Đêm đến, nghĩa quân của Triệu Quang Phục mới kéo thuyền ra đánh vào các doanh trại của quận Lương. Vì biết xây dựng căn cứ chuyển sang lối đánh nhỏ. đánh lẻ, quân ta dần dần khôi phục lại lực lượng, gây cho địch nhiều thiệt hại, lấy được nhiều lương thực để nuôi quân và giữ vững đựơc sức chiến đấu bền bỉ, lâu dài. Từ đấy Đức Triệu Quang Phục được tôn là Dạ Trạch Vương ( vua Đầm Đen – dt Và th ) Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng hiệu là Triệu Việt Vương.

Năm Canh NGọ (550), nhà Lương có loạn to , thế lực suy yếu, Triệu Việt Vương từ căn cứ Dạ Trạch biết rõ gan ruột giặc liền xuất toàn bộ quân giao chiến giết được tướng giặc là Dương Sằn (có sách gọi là Dương Sàm) thu lại kinh đô, khôI phục nền độc lập cho nước Vạn Xuân.

Trước khi Lý Nam Đế mất, ông thất thế chạy về động Khuất Lão thì người anh ruột là Lí Thiên Bảo cùng người anh họ là Lý Phật Tử (Lý Thiện Long?) đem quân chạy vào đất Cửu Chân. Bị quân Lương xua đuổi, Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử phải chạy vào Châu ái (Thanh Hoá) giáp Lào rồi đóng đô ở Dã Năng xưng là Đào Lang Vương. Lý Thiên Bảo mất, không có con , binh quyền thuộc về tay Lý Phật Tử. đến năm Đinh Sửu (557) Lý Phật Tử đem quân về đánh Triệu Việt Vương nhưng không thắng. Lý Phật Tử mới giảng hoà và xin thề cùng nhà Triệu xây dựng giang sơn. Triệu Việt Vương nghĩ tình họ Lý cũng thuận chia đất cho Phật Tử. Phật Tử đóng đô ở Ô Diên nên mới có câu: “Ô Diên chi giới lưỡng phân chí tồn Nam Lý”. Nghĩa là “ Ô Diên địa giới chia đôi- vì chút nghĩa để còn nhà Nam Lý “

Triệu Việt Vương còn gả con gáI là Cảo Nương cho Nhã Lang – con trai Lý Phật Tử để tỏ lòng hoà hiếu. Tướng Chương Hống và Chương Hát vừa là tướng tin cẩn của Đức Vua vừa là cháu gọi vua bằng cậu đã can ngăn, không nên thông gia với ngưòi cựu thù và lấy chuyện Thục An Dương Vương từ VI thế kỉ trước ra để nhà vua sáng tỏ , nhưng vua không nghe. Hai tướng bất bình bỏ đi. Vì thiếu hai tướng kiêm tài văn võ nên nhà Vua đêm ngày mải chăm lo binh mã, việc ở rể của Nhã Lang hình như quên bẵng . Một hôm Nhã Lang hỏi vợ: “ trước vua cha chúng ta là cựu thù với nhau, nay là thông gia , chuyện này chẳng cũng hay lắm ư. Nhã Lang đã hỏi vợ về binh pháp của cha nàng vì sao mà đánh lui được quân Lương và thắng luôn cả quân của cha mình . với ý đồ thâm hiểm đêm ngày, Cảo Nương không biết được mưu chồng, đã lấy mũ đâu mâu cho xem và Nhã Lang đã bao lần chau chuốt. Cuối cùng , Nhã Lang ngầm đổi móng rồng, tráo đựơc Long Chảo rồi trở về cùng cha là Lý Phật Tử kéo quân sang đất của Triệu Quang Phục thách đánh.

Nhà vua tin vào hiệu lực của mũ Long Chảo (tức móng rồng) đưa quân ra cự chiến, nhưng Long Chảo đã mất tác dụng , các tướng tài lại phần vì chểnh mảng , phần vì bất ngờ , không ứng phó kịp… Vua bèn thu quân chạy xuống phía Nam đóng trại ở vùng Sơn Nam. Quân Lý Phật Tử đuổi theo, vua chạy tới của Đại Nha (tức Độc Bộ ngày nay) thuộc Yên Nhân – Ý Yên –Nam Định thì gặp cửa biển, đường đi đã nghẽn lối, tương truyền nhà vua hô lớn: ”Hoàng Long Vương thần không giúp ta sao?” Đại Nha nổi sóng rồng vàng xuất hiện rẽ nước thành đường đi, nhà vua bước một bước xuống, nước khép lại như cũ. Vua mất ngày 14 -7 năm Tân Mão, ở ngôi được 23 năm. Dân đã lập miếu thờ tại nơi ông mất. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285)Vua Trần Nhân Tông sắc phong là “Minh Đạo Hoàng Đế”. Năm Trùng Hưng thứ tư , Vua ban thêm 2 chữ “Khai Cơ” . Năm Hưng Long thứ 2 (1313) vua Trần Anh Tông ban thêm 4 chữ “Thành Liệt Thần Vũ” khoảng 80 năm truớc đây , đền đã được chánh ngũ phẩm Đồng Hữu Hiên ngưòi thôn Lạc Chính, tự đứng ra hưng công. Bây giờ dân làng còn nhớ đến công lao của ông . Nhưng ngôi đền hình chữ tam , có long các đẹp nhất Bắc Kỳ hồi ấy đã bị giặc Pháp phá tận móng năm 1948. Chúng sợ ngôi đền nằm trên mỏm đất rộng chừng hơn 1ha nhô ra nga 3 giữa sông Đáy và sông Đào gặp nhau, là nơi hoạt động của Việt Minh, án ngữ tàu chiến của chúng từ Phát Diệm lên Nam Định.

Hôm chúng tôI tới thăm Đại Nha xưa, chưa tới tiết thanh minh mà trời nóng như đổ lửa, đứng dưới gốc xanh cổ thụ, chừng 5 người ôm mới xuể để chờ cán bộ địa phương mà chợt nhớ về người anh hùng dân tộc.

“ngỡ còn đây bóng người xưa,
Những đêm Dạ Trạch trèo khua sóng dồn
Quân reo lủa cháy bên cồn
Sậy lau tua tủa kinh hồn giặc Lương”


Từ năm 1957 đến 2006, đền đã được xây lại trên nền móng cũ, cũng ba tòa với bái đường 2 tầng sừng sững, uy nghi nhìn về ngã ba , nơi hợp lưu của sông Đáy, sông Đào, nước chảy xuôi ra biển. Tầng trên của bái đường có bức hoành phi “Vạn Xuân độc lập” tầng duới có bức hoành phi bốn chữ đề ngoài của "Nam Thiên HIển Thánh”.Chúng tôi đi vào cửa chính bái đường 5 gian với 16 cột bê tông xếp thành 4 hàng mà tưởng như những hàng quân Dạ Trạch Vương đang nghiêm trang đợi lệnh, với đôi câu đối:

”Quốc sĩ vô song văn võ toàn tài song hữu miếu
Dư đồ hội nhất giang sơn hữu chủ nhất linh thanh”.


Trung đường cũng hoàn toàn bằng bê tông, hoành , xà kẻ , bẩy đều giả gỗ. Nhưng bộ cửa võng sơn son thếp vàng , trạm trổ long , ly , quy, phượng, rồng, lá thì bằng gỗ thật . Phía trước là bàn thờ hội đồng,hai bên tả hữu thờ văn quan võ tướng.Với đôi câu đối các cụ còn nhớ được từ xưa ghi lại:

“ Bác đức thánh văn nguy nguy chấn Nam phương thượng đẳng
Bia đề cổ tích Độc Bộ phụng sự hộ anh linh.”


Cũng có ông giáo làng hoạnh hoẹ câu đối này không chuẩn vì có hai chư “nguy nguy”. Họ không hiểu chữ hán “nguy nguy”ở đây ý nói là nguy nga cao vời vợi không nơi nào sánh bằng. Đồ thờ tự trong hậu cung còn nguyên vẹn từ thời xưa vì các cụ cất dấu được trước khi giặc phá Tượng ngài cao lồng lộng ngồi trong cỗ khám tám mái kiểu long đình có ghép kính bốn mặt.Hai bên còn thờ cả Hoàng Hậu ,cung phi.

Hàng năm dân làng ở đây mở hội vào các ngày 13,14,15-8 âm lịch,kỵ ngày ngài hiển thánh (13-8-ất Mão, năm 595). Đền thờ ngài ở các huyện Ý Yên ,Vụ Bản Nam Trực ,Trực Ninh, Nghĩa Hưng Giao ,Thuỷ Hải Hậu, Xuân Trường-Nam định, Nga Sơn –Thanh Hoá, Yên Khánh Yên Mô, Kim Sơn , Gia Viễn-Ninh Bình…cũng cử người về đây cùng 6 thôn trong xã rước về Đền rồi lập đàn tế ngài ở Tam Kỳ Giang (giữa ngã ba sông). Ngày xưa , cứ khỏang đầu tháng tám là các thuyền đinh hội tụ về hai bên bờ sông , cạnh đền thờ ngài để xin lễ rước. Bây giờ thì có phà, có năm thuê cả sà lan ghép lại chứa được hàng ngàn khách thập phương về dự tế thánh.

Tu sửa được đền to đẹp như ngày nay,phần lớn cũng nhờ công đức thập phương cùng với dân làng Độc Bộ.

Thấy chúng tôi về viết bài , họ chỉ ước ao: Đền ở đây sẽ sớm được nhà nước công nhận là di tích lich sử văn hoá .

- Đồng Ngọc Hoa-


 
 
Picture
Từ Nam Định đi theo đường 10 khoảng 15 km đến ga Cát Đằng rẽ trái khoảng 300m là đến đình La Xuyên thuộc xã Yên Ninh huyện Ý Yên. Cùng với Ninh Xá và một số thôn khác thuộc xã yên Ninh, vùng đất La Xuyên do Tướng quân Ninh Hữu Hưng lập ra vào thế kỷ X- XI.

Ninh Hữu Hưng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm nghề mộc ở xã Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn ( nay là Hoa Lư- Ninh Bình).Ông là một thợ mộc giỏi nổi tiếng lúc bấy giờ, từng giúp vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành xây dựng cung điện Hoa Lư. Về sau ông được vua Lê Đại hành phong chức: “ Lục phủ công tượng giám sát đại tướng quân”. Cuốn thần phả hiện lưu tại đền do Tiến sĩ Nguyễn Hoàn viết năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) cho biết lúc sinh thời Ninh Hữu Hưng đã học được bí kíp nghề mộc của vua Diêm La dưới địa phủ. Chính vì thế mà sau này nhân dân còn gọi ông là Lão La. Tên vùng đất La Ngạn sau đổi thành La Xuyên cũng từ đó mà ra đời để tưởng nhớ đến ông tổ đã có công chiêu tập nhân dân về đây mở mang trang ấp đồng thời truyền nghề sinh sống. Nghề mộc do ông truyền dạy cho người dân nơi đây ngày càng phát triển. Những nghệ nhân nơi đây đã góp công sức xây dựng những công trình lớn như kinh đô Thăng Long, kinh đô Huễ cho đến đình, đền, chùa, miếu, phủ trên khắp mọi miền đất nước. Các sản phẩm gỗ ở đây đảm bảo sự chắc bền, thẩm mỹ với kỹ thuật gia công tinh tế, chi tiết đã trở thành thương hiệu nổi tiếng của người dân La Xuyên.

Tướng quân Ninh Hữu Hưng mất ngày mồng 4 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1019), hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu và dân làng đã đưa linh cữu ông về chân núi Xương Bồ- Ninh Bình an táng. Tưởng nhớ công lao ông, các thôn làng do ông tạo dựng như La Xuyên, Ninh Xá đều lập đền thờ để tri ân công đức. Các sắc phong của các triều đình phong kiến sau này hiện còn lưu giữ tại dích đu phong ông là Thiên tử Diêm La vương hoặc Dinh điền quan Lão La đại thần. Tấm bia đá soạn khắc dưới triều Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Hòa thứ nhất (1443) cho biết trong quá khứ ngôi đền La Xuyên đã bị chuyển đi một số lần, đến năm 1443 bắt đầu được xây dựng tại vị trí hiện nay. Sau này nhân dân xây thêm một ngôi phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh bên cạnh, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.

Toàn bộ khu di tích này nằm quay về hướng tây quanh là cánh đồng lúa.Các công trình phụ trợ ở đây như hồ nước, hệ thống nghi môn, vườn cây đều được bố trí hài hòa, phù hợp cảnh quan. Bao quanh khu di tích là hệ thống tường gạch, tạo nên một không gian hoàn chỉnh, khép kín.


                                                                Đình La Xuyên, xã Yên Ninh

Đình La Xuyên được xây dựng theo hình chữ Đinh. Tòa tiền đường gồm 3 gian, cao 8m, được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái. Hệ thống vì tại tiền đường được thiết kế theo phong cách chồng rường giá chiêng. Gánh đỡ các bộ vì là 4 hàng cột lim to khỏe, có đường kính 50 cm. Tại đây các cấu kiện gỗ như câu đầu, xà thượng, xà hạ, con rường đều được soi chỉ, điểm các hàng lá lật mềm mại. Tất cả kết hợp cùng những nét cổ kín, uy nghiêm. Nối tiếp tiền đường là trung đường và chính tẩm. Cũng giống như tiền đường, hai tòa này cũng được hoàn toàn bằng gỗ lim. Tại đây chính là nơi thể hiện rõ nét tay nghề tài hoa của các nghệ nhân La Xuyên. Các hình tượng con rồng, tứ quý, tứ linh… trên các cánh cửa, các bộ vì được chạm bong, chạm lộng với kỹ thuật gia công cầu kỳ, tỉ mỉ, sắc nét.

Nằm về phía bắc của đình La Xuyên là ngôi phủ thờ mẫu Liễu Hạnh được thiết kế theo kiểu tiền chữ nhất, hậu chữ đinh. Hệ thống vì gỗ lim tại công trình này cũng được làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, chạm khắc các đề tài tứ quý, tứ linh, lá lật… với nhiều kiểu dáng, đường nét khác nhau thể hiện tính sáng tạo, trình độ điêu luyện của một làng nghề truyền thống.
Đình phủ La Xuyên không chỉ là nơi lưu giữ, thể hiện nét tài hoa của những nghệ nhân nơi đây mà còn lưu giữ, phát huy những nét truyền thống văn hóa làng nghề được thể hiện qua mỗi kỳ lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 10 đến 15 tháng giêng hàng năm. Lễ hội không chỉ là dịp vui xuân, thưởng thức các trò chơi dân gian mà còn là cơ hội để những người con xa quê hương hòa mình vào những nét thuần phong mỹ tục quê hương, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn. Đặc biệt, trong lễ hội dân gian làng thường tổ chức các cuộc thi trình diễn các sản phẩm gỗ làm từ chính những người thợ trong làng. Cuộc thi không chỉ là dịp để những người thợ trao đổi, học tập kinh nghiệm của nhau mà còn là dịp quảng bá sản phẩm của làng nghề truyền thống, đúng như câu ca mà nhân dân lưu truyền: Giai nhân con cháu Cái Nành
Dẫu không khoa bảng cũng thành nghệ nhân Theo: "Di tích lịch sử văn hóa Nam Định"